SỐ LƯỢT TRUY CẬP

1
2
9
1
3
6
8
9
Tin tức sự kiện 15 Tháng Hai 2012 10:30:00 SA

DI TÍCH LỊCH SỬ CĂN CỨ VÙNG BƯNG 6 XÃ

 

Di tích tọa lạc trên địa bàn 2 phường: Tăng Nhơn Phú B và Phú Hữu, quận 9, thành phố Hồ Chí Minh. Từ trung tâm thành phố Hồ Chí Minh đi theo đường Điện Biên Phủ, qua cầu Sài Gòn, theo Quốc lộ 52 (trước đây là xa lộ Sài Gòn – Biên Hòa) đến ngã tư Thủ Đức rẽ phải vào đường Lê Văn Việt, qua chợ Hiệp Phú khoảng 100m, rẽ phải vào đường Lã Xuân Oai, đến địa điểm cầu Tăng Long – tượng đài Chiến Thắng, xuống thuyền đi theo sông Trao Trảo (còn gọi là sông Lò Lu), tới ngã ba Hàm Rồng rẽ phải là tới di tích lịch sử Căn cứ Vùng Bưng 6 xã.

 

Ngay sau thời điểm lịch sử ngày 19/8/1945 dưới sự lãnh đạo sáng suốt và kiên quyết của Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân ta đã giành chính quyền thắng lợi ở thành phố Hà Nội và ngày 25/8/1945 giành chính quyền thắng lợi ở thành phố Sài Gòn thì cũng là lúc thực dân Pháp và các thế lực phản động ở trong và ngoài nước lại ráo riết tìm cách lật đổ chính quyền dân chủ nhân dân non trẻ của ta. Chưa đến 1 tháng sau, thực dân Pháp đã gây hấn.

 

Tại thành phố Sài Gòn – Chợ Lớn và tỉnh Gia Định, chính quyền nhân dân vừa mới được thành lập, tổ chức Đảng các cấp chưa thống nhất từ tỉnh, thành phố xuống cơ sở, lực lượng vũ trang mới ra đời còn phân tán và phức tạp về thành phần, vũ khí trang bị còn thô sơ và thiếu, chưa có kinh nghiệm về tổ chức và thực hành chiến đấu … lại phải đương đầu với thực dân Pháp có quân số đông đảo, được trang bị vũ khí và phương tiện chiến tranh hiện đại.

 

 

 

Sông rạch ở Bưng 6 xã

 

 

 

Về sự ra đời của căn cứ Vùng Bưng 6 xã, đồng chí Nguyễn Văn Mỹ xác định: Căn cứ Khu C lúc mới thành lập chỉ có 3 xã: Tam Đa, Phước Trường, Ích Thạnh. Sau đó mở rộng thêm xã Phú Hữu. Đến lúc hoàn chỉnh Căn cứ Khu C gồm 8 xã: Tam Đa, Phước Trường, Ích Thạnh, Phú Hữu, Phước Long, Tăng Nhơn Phú, Bình Trưng, An Phú. Sau này 3 xã Tam Đa, Phước Trường, Ích Thạnh sáp nhập thành xã Long Trường do vậy còn lại 6 xã: Long trường, Phú Hữu, Phước Long, Tăng Nhơn Phú, Bình Trưng, An Phú được gọi là Căn cứ Vùng Bưng 6 xã.

·        Xã Long Trường: Vạt bưng từ ấp Truông Tre trở ra.

·        Xã Phú Hữu: vạt bưng từ ấp Tân Điền, ấp An Điền trở ra.

·        Xã Phước Long: Một phần bưng Ông Thoàn.

·        Xã Tăng Nhơn Phú: Phần còn lại bưng Ông Thoàn.

·        Xã Bình Trưng: Vạt bưng của xã.

·        Xã An Phú: Vạt bưng ấp Bà Vạc, vạt bưng từ đường số 32 trở ra.

 

Trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp và bè lũ tay sai bán nước, là quá trình huyện ủy vừa chiến đấu vừa xây dựng đảng bộ huyện. Đội ngũ đảng viên được thử thách sàng lọc trong lò lửa đấu tranh cách mạng. Từ một vài đảng viên về lãnh đạo giành chính quyền ngày 25 và 26/8/1945 đến tháng 10/1946 đã thành lập huyện ủy lâm thời với 3 chi bộ (xã Tăng Nhơn Phú, xã Tam Bình, xã Tân Đông Hiệp), năm 1950 có trên 900 đảng viên và hàng chục chi bộ cơ sở. Lực lượng bám trụ ở căn cứ Khu B và Khu C thời kỳ này gồm có:

 

a.     Huyện ủy:

Tháng 10/1947 huyện ủy lâm thời và Ủy ban hành chánh kháng chiến huyện đóng tại căn cứ Khu B ở Long Phước Thôn và căn cứ Khu C ở các xã Tam Đa, Ích Thạnh, Phước Trường, Phú Hữu, Phước Long, Tăng Nhơn Phú, Bình Trưng, An Phú. Tại đây huyện ủy lãnh đạo xây dựng chính quyền mặt trận Việt Minh, đoàn thể cứu quốc công, nông, thanh, phụ tại các xã vùng bưng. Thành lập chi bộ các xã Long Phước Thôn, Tam Đa, Phước Trường, Phú Hữu, thành lập cơ quan văn phòng huyện ủy và cơ quan dân chính huyện.

 

Đại hội đảng bộ huyện lần thứ nhất họp tại căn cứ Khu B, đồng chí Trịnh Phong Đán được bầu làm bí thư huyện ủy kiêm phó chủ tịch ủy ban hành chánh kháng chiến, chủ tịch mặt trận Việt minh. Mai Văn Vân – phó bí thư kiêm phó chủ tịch mặt trận Việt minh. Đào Sơn Tây – ủy viên ban chấp hành phụ trách quân sự. Lê Văn Long – ủy viên ban chấp hành phó chủ tịch ủy ban hành chánh kháng chiến. Bạch Giáp Thìn – ủy viên ban chấp hành phụ trách quốc gia tự vệ cuộc (sau đổi thành công an huyện).

 

b.     Lực lượng vũ trang:

Từ cuối năm 1946 đến tháng 5/1954 lực lượng vũ trang bám trụ ở căn cứ vùng bưng gồm có: các ban trinh sát huyện do Đào Sơn Tây phụ trách, Đại đội 10 và Đại đội 15 thuộc Vhi đội 6 chủ lực, lực lượng du kích các xã vùng bưng dưới sự lãnh đạo của Huyện ủy và huyện đội đã tăng cường họat động vũ trang tuyên truyền, diệt ác trừ gian, giải tán các ban tề, hội các xã vùng bưng, hướng dẫn và giải thích cho nhân dân hiểu về Mặt trận Việt Minh và ủng hộ Mặt trận Việt Minh.

Lực lượng vũ trang bám trụ ở căn cứ vùng bưng họat động liên tục và mạnh mẽ, tổ chức các trận đánh tiêu hao sinh lực, răn đe địch, bảo vệ an toàn căn cứ Huyện ủy.

Huyện ủy và Ủy ban hành chánh kháng chiến giao nhiệm vụ bảo vệ căn cứ Huyện ủy chủ yếu cho lực lượng du kích tại chỗ bằng biện pháp bảo vệ bên trong và bên ngoài căn cứ như tăng cường đánh địch càn quét vào căn cứ, đánh địch đóng quân ngoài căn cứ. Nhờ đó mà lực lượng vũ trang của huyện, của tỉnh có điều kiện cơ động, bất ngờ đánh địch ở các vùng tạm chiếm gây tổn thất nặng cho địch hoặc bộ đội huyện, tỉnh có điều kiện phân chia lực lượng phối hợp với du kích xã đánh địch càn vào khu căn cứ.

 

c.      Phong trào đấu tranh chính trị của nhân dân:

Từ cuối năm 1946 đến tháng 5/1954 dưới sự lãnh đạo của Huyện ủy, nhân dân vùng bưng đã vận dụng sáng tạo và linh hoạt các hình thức đấu tranh với địch như chống bắt lính, đòi chồng con anh em đi lính cho địch trở về nhà, binh vận dụ địch đầu hàng, vận động binh lính làm binh biến làm nội ứng cho ta, nắm tin tức … Nhân dân phối hợp chặt chẽ với lực lượng cũ trang tại chỗ đấu tranh vũ trang làm tan rã từng phần hàng ngũ địch. Nhân dân vùng bưng vừa sản xuất vừa thực hành tiết kiệm “hũ gạo tình thương”, “Con gà kháng chiến”. Đặc biệt nhân dân là thành đồng lũy thép che chở đùm bọc nuôi dưỡng cán bộ chiến sĩ bám trụ tại vùng bưng.

 

KHẢO TẢ DI TÍCH

 

Di tích lịch sử căn cứ vùng bưng 6 xã tọa lạc trên địa bàn 2 phường Phú Hữu và Tăng Nhơn Phú B, quận 9 thành phố Hồ Chí Minh.

 

Căn cứ vùng bưng 6 xã vốn có địa bàn rộng lớn nhưng hiện tại để bảo tồn, phục dựng, tôn tạo và phát huy giá trị di tích do vậy trước mắt khoanh vùng bảo vệ di tích với diện tích 13,2 ha. 13,2 ha với địa hình tự nhiên chia cắt do hệ thống sông rạch đan xen. Thực vật sống ở ven sông rạch, trên mặt đất trũng ngập nước tạo nên những vạt rừng lá lúp xúp chủ yếu là cây dừa nước, cỏ lưỡi mác, có cóc kèn, cây ô rô, dây leo và xen kẽ còn có cây thân gỗ như cây dầu, cây bần, cây dừa trái. Đây là địa điểm thuận lợi trong việc phục hồi cảnh quan di tích căn cứ vùng bưng 6 xã.  Từ địa điểm tập kết là Tượng đài Nam Thủ Đức – Cầu Tăng Long phường Trường Thạnh, di chuyển bằng thuyền theo sông Trao Trảo (còn gọi là sông Lò Lu), tới ngã ba Hàm Rồng (ngã ba sông), rẽ vào nhánh sông bên phải là tới di tích lịch sử căn cứ vùng bưng 6 xã.

 

Nếu lấy đường Bưng Ông Thoàn làm trục dọc và lấy kinh Ông Hồng nối liền sông Rạch Chiếc làm trục ngang, ta có điểm trục dọc và trục ngang cắt nhau là cầu Kinh thì di tích căn cứ vùng bưng 6 xã chia làm 3 phần đất như sau:

Phần 1: Diện tích 9,0427 ha tọa lạc phía bên phải cầu Kinh, bao bọc xung quanh là kinh Ông Hồng ở phía trước, đường Phước Hữu (dự kiến) ở phía sau, sông Trao Trảo ở phía bên phải, đường Bưng Ông Thoàn ở phía bên trái. Tại phần đất này có các địa điểm bám trụ của Tiểu đoàn 4 Thủ Đức và huyện đội Thủ Đức.

 

Phần 2: Diện tích 2,2183 ha tọa lạc phía bên trái cầu Kinh, bao bọc xung quanh là sông Rạch Chiếc ở phía trước, đường Phước Hữu (dự kiến) ở phía sau, đường Bưng Ông Thoàn ở phía bên phải, đường vành đai khu công nghệ cao thành phố ở phía bên trái. Tại phần đất này có các địa điểm bám trụ của đơn vị quân y - K20 anh hùng.

 

Phần 3: Diện tích 1,9096 ha tọa lạc phía bên trái cầu Kinh đối diện với phần 2 có sông Rạch Chiếc làm ranh giới. Bao bọc xung quanh là khu công nghệ cao ở phía trước, sông Rạch Chiếc ở phía sau, đường Bưng Ông Thoàn ở phía bên phải, đường vành đai khu công nghệ cao ở phía bên trái. Tại phần đất này có các địa điểm bám trụ của huyện ủy Thủ Đức.

 

GIÁ TRỊ CỦA DI TÍCH:

Di tích lịch sử căn cứ vùng bưng 6 xã là địa bàn bám trụ chiến lược của huyện ủy, ủy ban nhân dân, lực lượng vũ trang và nhân dân vùng bưng 6 xã trong 30 năm chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược.

 

Từ căn cứ vùng bưng 6 xã Huyện ủy đã lãnh đạo nhân dân kháng chiến giành được thắng lợi vẻ vang góp phần cùng cả nước đánh bại hoàn toàn 2 đế quốc to nhất, tàn bạo nhất, xảo quyệt nhất, thâm độc nhất là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước.

 

Căn cứ vùng bưng 6 xã là địa bàn cơ động chiến lược vô cùng quan trọng của các lực lượng vũ trang từ xã, huyện đến tỉnh, quân khu và miền để uy hiếp và đánh vào cơ quan đầu não địch một cách táo bạo nhất, bất ngờ nhất, trong thời gian nhanh nhất, với khoảng cách ngắn nhất (cách trung tâm thành phố chỉ 5 km theo đường chim bay, trong tầm hỏa lực ĐKZ của ta) đặc biệt là nơi xuất phát của lực lượng vũ trang tiến công vào thành phố Sài Gòn trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu thân 1968 và chiến lược đại thắng mùa xuân 1975.

 

Dưới sự lãnh đạo của Huyện ủy, các lực lượng vũ trang và nhân dân vùng bưng 6 xã đã đoàn kết một lòng, vượt qua mọi gian khổ hy sinh, kiên cường bám trụ xây dựng căn cứ, bảo vệ an toàn căn cứ và chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn.

 

Với những giá trị tiêu biểu về mặt lich sử nêu trên, ngày 10/10/2008 Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã ra quyết định số 4303/QĐ-UBND công nhận Căn cứ Vùng bưng 6 xã là Di tích lich sử.


Số lượt người xem: 19160    

TIN MỚI HƠN

TIN ĐÃ ĐƯA

Xem tiếp
Xem theo ngày Xem theo ngày
  • Tiền duyên
  • Quê mình thắm tươi
  • Quận 9 rạng rỡ xuân hồng
  • Ngày về quê em
  • Ký ức đồng bưng
  • Em về Quận 9 áo hoàng hôn
  • Đây là quê hương
  • Vùng bưng quê em
  • Bên kia một dòng sông
  • Bài ca Quận 9
Tìm kiếm