Lịch sử hình thành
Thứ hai, 22/04/2019, 02:42 SA
Cỡ chữ Màu chữ image

Thực hiện Nghị định số 03/CP ngày 06 tháng 01 năm 1997 của Chính Phủ về việc thành lập các quận, phường mới ở thành phố Hồ Chí Minh, ngày 18 tháng 03 năm 1997, Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã ra quyết định số 1196/QĐ-UB-NC về việc tách huyện Thủ Đức để thành lập Quận 2 (11 phường), Quận 9 (13 phường) và quận Thủ Đức (12 phường). Trong đó, đơn vị hành chính Quận 9 gồm toàn bộ diện tịch tự nhiên của các xã Long Bình, Long Phước, Long Trường, Long Thạnh Mỹ, Tăng Nhơn Phú, PHú Hữu, Phước Bình, 484 ha của xã Tân Phú, 891ha của xã Phước Long, 172 ha của xã Hiệp Phú, 140 ha của xã Bình Trưng thuộc huyện Thủ Đức để thành lập 13 phường.

Địa bàn quận 9 ngày nay, vào đầu kỷ nguyên là vùng đất hoang, rừng rậm và sình lầy, thú rừng sống thành từng đàn, dân cư thưa thớt, hầu hết sống trên vùng cao chuyên các nghề nương rẫy, chăn nuôi và săn bắt, không quen làm lúa nước.

Từ thế kỷ 15, sau khi cuộc kháng chiến chống quân Minh của lực lượng nhà hậu Trần thất bại, tàn quân rút vào thuận hóa là tuyệt lộ, một số bỏ chạy sang Lào, một số qua Chiêm Thành, số còn lại sẳn có chiến thuyền, vũ khí, lương thực, dong bườm chạy thẳng xuống phía Nam, đổ bộ lên đất Mô Xoài lánh nạn cũng giống như hơn 200 sau tàn quân Long Môn của nhà Thanh bỏ chạy sang xứ Đàng trong lánh nạn nhà Thanh. Số người này đã bắt tay vào việc khai phá rừng rậm, cuốc xới sình lầy, gieo trồng lúa nước là ngành nông nghiệp đã quen nơi quê cũ. Họ sống chung hoà hợp với dân bản địa, tạo thành một cộng đồng dân cư ngày càng đông đảo.

Tiếp theo đó, từ năm 1623, với ý đồ mở bờ cõi có thêm đất đai cho dân chúng sinh sống, các chúa Nguyễn đã dùng tài ngoại giao khôn khéo, tạo mối thiện cảm đối với triều đại Chân Lạp, để đưa dân cư từ vùng Thuận Quàng vào lập nghiệp. Đến năm 1698 thì số dân toàn vùng đã lên đến hơn 40 vạn hộ, với ruộng đất khai phá hơn nghìn dặm, chúa Nguyễn Phúc Chu mới sai Lễ thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh vào đây kinh lý, lấy đất Đồng Nai lập ra phủ Gia Định, lấy đất Đông phố lập huyện Phước Long, dựng dinh Trấn Biên, đất Sài Gòn lập huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trấn, đặt quan chức cai trị hành chánh, quân lính trong coi về quốc phòng.

Huyện Phước Long lúc đầu có bốn tổng là Tân Chánh, Bình An, Long Thành và Phước An. Phần đất Quận 9 ngày nay thuộc về địa phận tổng Long Thành. Đến năm Gia Long thứ 7 (1808) huyện Phước Long được nâng thành bốn huyện Phước Long được nâng lên phủ Phước Long, bốn tổng được nâng lên thành 4 huyện. Mỗi huyện được chia làm 2 tổng Long Vĩnh và Thành Thành Tuy, lấy hai chữ tên huyện đặt lên đầu tên hai tổng. Địa bàn Quận 9 ngày nay lúc đó thuộc tổng Long Vĩnh. Tổng Long Vĩnh bấy giờ có 34 xã, thôn, phường, ấp, mà một số còn lưu giữ đến ngày nay như Long Trường, Phước Thiện, Long Đại v.v…

Qua triều Minh Mạng, năm thứ 2(1821), dân số đã tăng lên, ruộng đất khai phá được mở rộng, nhiều thôn, ấp mới được thành lập. Do đó địa bàn hai tổng được chia làm bốn tổng. Để bảo tồn tên nguyên thủy của các tổng mới, người ta chỉ thêm các chữ Thượng và Hạ vào sau, như Long Vĩnh Thượng, Thành Tuy Hạ. Từ trước cho đến năm 1836, với các chính sách khuyến nông rất thoáng của các chúa Nguyễn, rồi đến các vua Nguyễn, người dân khai phá ruộng được bao nhiêu làm chủ bấy nhiêu, tự mình kê khai với phường thôn để chịu thuế, khai bao nhiêu biết bấy nhiêu, không có đo đạc trên thuộc địa. Đơn vị tính thuế gọi là khoảnh, thửa, dây, không gọi theo sào mẫu, thước tấc. Do đó, năm 1836 vua Minh Mạng mới củ phái bộ Trương Đăng Quế, Trương Minh Giảng thực hiện công cuộc đo đạc toàn thể ruộng đất trên cả sáu tỉnh Nam Kỳ. Từ đó các thôn phường mới có địa bộ chính thức. Đến năm Minh Mạng thứ 18(1837), ranh giới hành chánh của tỉnh Biên Hòa có sự thay đổi. Hai Huyện Long Thành Và Phước An được tách ra khỏi phủ Phước Long để thành lập phủ mới lấy tên là Phước Tuy. Tình trạng đó kéo dài mãi cho tới khi người Pháp đánh chiếm tỉnh Biên Hòa, thành lập chính quyền thực dân.

Sau khi được làm chủ ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ theo hòa ước Nhâm Tuất (1862) người Pháp muốn thi hành chính sách trực trị, bèn bỏ hết cấp tỉnh, phủ, huyện chia địa bàn tỉnh thành 13 địa hạt (Arrondisements), trong đó tỉnh Biên Hòa cũ được chia làm 5 địa hạt. Trong đó 5 địa hạt thuộc tỉnh Biên Hòa cũ có địa hạt Long Thành bao gồm thị trấn Long Thành và huyện Long Thành cũ. Đứng đầu mỗi địa hạt là viên sĩ quan người Pháp gọi là giám đốc bản xứ sự vụ (Directeur des Affaires indigènes) trực thuộc viên giám đốc cao cấp bản xứ sự vụ (Directeur Supérieur des Affaires indigènes) đóng tại Sài Gòn. Năm 1867, sau khi chiếm trọn 6 tỉnh Nam , người Pháp chia toàn địa bàn 24 đơn vị hành chính gọi là hạt thanh tra (Inspections), sau đổi thành tham biện (Administrateur). Nơi trụ sở gọi là tòa tham biện, người Việt quen gọi là tòa Bố. Hạt Long Thành cũ vẫn giữ tên gọi và ranh giới, với 10 tổng và 105 làng. Ngày 05 tháng 6 năm 1871, thống đốc Nam kỳ ra nghị định giải thể tòa tham biện Long Thành, sát nhập phần đất vào các toà tham biện lân cận, do đó các làng thuộc tổng Long Vĩnh Hạ được sát nhập vào hạt tham biện Sài Gòn. 1885 hạt Sài Gòn đổi tên thành hạt Gia Định 1889 lại đổi là tỉnh Gia Định theo lệnh chung của toàn quyền Đông Dương. Tỉnh Gia Định bấy giờ có 8 tổng với 190 xã thôn. Tổng Long Vĩnh Hạ sau này là địa bàn quận 9 có 11 xã thôn là: Chí Thạnh, Ích Thạnh, Long Đại, Long Hậu, Long Sơn, Long Tuy, Mỹ Thạnh, Phước Hậu, Phước Thiện, Phước Thới, Vĩnh Thuận.

Sau 1 thời gian thi hành chính sách trực trị không kết quả, vào thập niên 1920 người Pháp buộc lòng phải cho thành lập lại cấp huyện có thời nhà Nguyễn, dưới danh xưng thống nhất là quận, theo đó là tỉnh Gia Định được chia làm 4 quận: Thủ Đức, Hóc Môn, Gò Vấp và Nhà Bè. Các thôn làng được xác nhập lại thành các xã. Bấy giờ quận Thủ Đức có 5 tổng với 19 xã. Các cấp hành chính trên đây tồn tại cho đến Cách mạng tháng tám 1945. Trải qua 9 năm kháng chiến chống Pháp, mọi khả năng của đôi bên đều tập trung vào vấn đề quân sự không có thời giờ và điều kiện cải cách hành chính. Nhưng sau Hiệp định Genève, hòa bình lập lại, tại miền nam chính quyền Sài Gòn bắt đầu thực hiện việc sắp xếp lại các đơn vị hành chính một cách quy mô. Theo chủ trương đó, hai tổng An Thủy và Long Vĩnh Hạ của huyện Thủ Đức được tách ra hợp với tổng Chánh Mỹ Thượng của quận Châu Thành, Biên Hòa lập thành quận mới Dĩ An thuộc tỉnh Biên Hòa. Từ đây cấp tổng chỉ có trên danh nghĩa, không còn trên thực tế nữa. Các xã làm việc trực tiếp với quận. Ngày 10.10.1965, tổng Long Vĩnh Hạ lại được tách khỏi quận Dĩ An, nhập trở lại quận Thủ Đức. Đến thời điểm 1965 quận Thủ Đức có 15 xã là An Khánh, An Phú, Bình Trưng, Hiệp Bình, Linh Đông, Linh Xuân, Long Bình, Long Phước, Long Thạnh Mỹ, Long Trường, Phú Hữu, Phước Long, Tam Bình, Tăng Nhơn Phú và Thạnh Mỹ Lợi.

Năm 1967 xã An Khánh được cắt khỏi quận Thủ Đức, nhập vào thành phố Sài Gòn và được thành lập Quận 9 với hai phường là An Khánh và Thủ Thiêm. Qua năm 1972 trên địa bàn Thủ Đức lại được lập thêm một xã mới là xã Phước Bình. Sau ngày 30.4.1975, chính quyền cách mạng sắp xếp lại các đơn vị hành chính trong thành phố, quận Thủ Đức được gọi là huyện ngoại thành. Một số xã quá rộng được chia ra làm các xã mới, quận 9 bị giải thể. Hai phường An Khánh và Thủ Thiêm được trả về cho huyện Thủ Đức và gọi là xã, đưa tổng số đơn vị hành chính của huyện lên 23 gồm Thị trấn Thủ Đức và 22 xã là An Khánh, An Phú, Bình Trưng, Hiệp Bình Chánh, hiệp Bình Phước, Hiệp Phước, Linh Đông, Linh Trung, Linh Xuân, Long Bình, Long Phước, Long Thạnh Mỹ, Long Trường, Phước Bình, Phú Hữu, Phước Long, Tam Bình, Tăng Nhơn Phú, Thạnh Mỹ Lợi, Thủ Thiêm, Tam Phú, Tân Phú.

Quận 9 được thành lập ngày 01 tháng 4 năm 1997, với 13 phường gồm: Phước Long A, Phước Long B, Phước Bình, Phú Hữu, Long Trường, Long Thạnh Mỹ, Trường Thạnh, Long Bình, Tân Phú, Long Phước, Tăng Nhơn Phú A, Tăng Nhơn Phú B, Hiệp Phú.

ỦY BAN NHÂN DÂN QUẬN 9

Số lượng lượt xem: 361